Tư duy của giáo viên dạy tiếng Anh khi soạn bài

School children using laptop with teacher in the classroom

Bài viết của ThS. Nguyễn Thanh Thuý với đồng nghiệp dạy tiếng Anh tập trung vào một mắt xích quan trọng của giáo viên: Soạn bài. TeachVn.com xin chia sẻ với các bạn và nghĩ rằng, với thầy cô dạy môn khác vẫn có những thu nhận tích cực.

Mình có bài viết này muốn chia sẻ với các bạn là giáo viên tiếng Anh. Hy vọng các bạn thấy có ích.

SOẠN BÀI (LESSON PLANNING) 

Vì hôm trước có bạn tâm sự rằng còn thấy mông lung với vấn đề này, mình thử viết ra đây một số gạch đầu dòng cơ bản để đồng nghiệp trẻ của mình có thể nương vào mà xác định rõ hơn những mảng kiến thức bạn đang cần bổ sung/muốn biết để có thể thực hành chuyên môn hiệu quả hơn. Mình sẽ cố gắng hạn chế việc trình bày quá sâu và quá dài dòng về lý thuyết, tuy nhiên đây vẫn là nội dung dành cho người làm chuyên môn nên khó tránh khỏi một số thuật ngữ gây khó khăn cho người đọc phổ thông.

Soạn bài – lên kế hoạch cho một hoặc nhiều buổi lên lớp thực chất là một trong những công việc phức tạp nhất mà cũng toàn diện nhất mà một người giáo viên phải làm. Sở dĩ nói nó toàn diện vì nó đòi hỏi bản thân giáo viên phải có nền tảng cơ bản về những khối lý thuyết liên quan tới người học, việc học và kỹ thuật giảng dạy, và từ cái gốc này, đưa ra những quyết định trong việc sắp xếp hoạt động và chọn lựa tài liệu sao cho phù hợp nhất với lớp mình đang dạy. Nói cách khác, soạn bài thực chất là nghệ thuật sắp xếp công việc giảng dạy và học tập, làm sao để khéo léo dẫn dụ người học quan tâm – suy nghĩ – phát triển theo hướng mình mong muốn, vì vậy, không có một đáp án duy nhất đúng cho một nội dung bài học, cũng như bởi công việc chính là dẫn dắt suy nghĩ của con người, nên giáo viên càng thấu hiểu người học của mình bao nhiêu, công việc đó càng ý nghĩa và hiệu quả bấy nhiêu.

NHỮNG KIẾN THỨC CẦN NẮM ĐƯỢC

– Sự khác biệt trong nhận thức/tư duy của các lứa tuổi khác nhau, khả năng và giới hạn của họ trước những vấn đề xã hội (đối tượng của ngôn ngữ).

– Nhu cầu học tập và đặc điểm học tập của 3 đối tượng chính: trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn

– Các giai đoạn lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai của con người (tính theo thời gian và số lượng vốn từ cần thiết) + khả năng ngôn ngữ tương ứng với những giai đoạn này

– Cách chia bậc trình độ theo chuẩn CEFR

– Các bước cơ bản trong giảng dạy (PPP) và những biến thể tương ứng và tại sao lại có những biến thể này (liên quan tới teacher-centeredness, learning-centeredness và learner-centeredness)

– Cách tổ chức lớp học tương ứng với cảm xúc của người học (active learning vs passive learning)

– Một số kiến thức khác: Formative Assessment (sử dụng các kỹ thuật đánh giá outcomes của học sinh), quản lý lớp học, feedbacks cho học sinh, cân đối giữa accuracy và fluency, etc.

Về cơ bản, những khối kiến thức này khi áp dụng vào thực tế đều có sự trộn lẫn trong đó hiểu biết về mặt này sẽ dẫn lối cho lựa chọn hành động ở mục khác, ví dụ: hiểu được nhu cầu học tập của trẻ em cũng như hạn chế về lứa tuổi sẽ giúp giáo viên định hướng rõ cách lựa chọn nội dung bài học cũng như hình thức tổ chức lớp học sao cho việc học đối với các em nhỏ luôn tạo hứng khởi. Vì vậy, càng luyện tập lesson planning thành thạo bao nhiêu sẽ càng cảm thấy lý thuyết soi sáng con đường mình đi bấy nhiêu.

PLANNING

Quy trình chuẩn bị một bài giảng luôn luôn phải có hai phần cơ bản, trong đó yêu cầu giáo viên phải suy nghĩ:

– Phân tích đặc điểm người học của mình

– Phân tích nội dung cần dạy để xác định được trọng tâm (từ đó phân phối tỷ lệ thời gian hiệu quả), sau đó lựa chọn thứ tự hoạt động cũng như thiết kế hoặc tìm thêm tài liệu bổ trợ sao cho áp dụng mô hình PPP hiệu quả nhất, hướng tới việc khối kiến thức mình muốn dạy “đi” được vào lòng học sinh

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI HỌC

Có rất nhiều thứ phải suy nghĩ cân nhắc, trong đó việc tập trung nghĩ tới người học của mình với những nhu cầu và cách học khác nhau là một điều mà càng dạy sẽ càng thấy có ích. Dưới đây là những gạch đầu dòng gợi ý:

– Lớp học của mình có bao nhiêu học sinh? Cách tổ chức lớp cho các hoạt động cặp sẽ hạn chế ra sao? Nhóm thì phải xử lý thế nào? Có những bạn nào không nên ghép nhóm với nhau – vì sao?

– Các bạn đang ở độ tuổi nào? Với độ tuổi ấy, chủ đề bài học (chuẩn bị soạn) phù hợp ở mức độ nào, không phù hợp ở mức nào? Các bạn ấy sẽ thích chia sẻ về vấn đề gì, và không muốn chia sẻ cái gì? Họ gặp hạn chế ở đâu trong nhận thức? Niềm tin (belief) của họ về việc học trước khi gặp mình là gì? Nếu niềm tin ấy khác với phong cách giảng dạy của mình thì phải dung hoà nó ra sao?…

– Trình độ của lớp có đồng đều không? Nếu không thì tỷ lệ chênh lệch là bao nhiêu? Có cách nào giải quyết sự chênh lệch này mà không khiến cho các bạn giỏi hơn chán nản hoặc các bạn kém hơn lại càng thu mình hơn không?

– Trong lớp có bạn nào có “vấn đề” không? Vấn đề của bạn là ở kiến thức hay ở thái độ/hành vi? Các giáo viên khác có nhận xét giống mình không, và họ đã làm gì để giúp bạn ấy? Mình có thể làm được gì? – Các bạn trong lớp này thường phản ứng tích cực với loại hoạt động nào (vận động, nghe – nói, viết-đọc-vẽ…

– Những thứ thuộc về phong cách học của cá nhân)? Mình cần cân đối các hình thức hoạt động ra sao để bạn nào cũng cảm thấy phù hợp?

– Những bạn nào thường hoàn thành bài tập nhanh trước cả lớp? Có thể chuẩn bị thêm hoạt động/bài tập nào cho những bạn đó trong trường hợp bài học sắp tới?

PHÂN TÍCH NỘI DUNG GIẢNG DẠY

1. XÁC ĐỊNH TRỌNG TÂM BÀI

Việc xác định trọng tâm của buổi học là một việc HẾT SỨC QUAN TRỌNG, điều này giúp bạn tránh sa đà vào việc “chiều chuộng” sự vui vẻ của học sinh –> cuối buổi chả học được gì, cũng như tránh quá tập trung vào một hình thức hoạt động –> sự phát triển ngôn ngữ của học sinh bị thiên lệch thái quá –> họ hoặc KHÔNG sử dụng được ngôn ngữ trong tình huống thực, hoặc dùng được nhưng lại bị SAI quá nhiều.
Trước khi bàn đến các mục cơ bản của một buổi học, giáo viên cần xác định rõ ràng bài mình đang soạn nằm ở đâu trong CHUỖI bài học liên hoàn mà học sinh của mình đang tiếp nhận, cũng như vai trò của nó trong sự phát triển ngôn ngữ của người học. Cái này có thể dùng 4 strands của Paul Nations làm cơ sở quan trọng (meaning-focused input, meaning-focused output, language focus và fluency) (*), trong đó tỷ lệ “đẹp” nhất là 25% thời lượng TỔNG cho mỗi thứ, để từ đó người học của mình có thể phát triển ĐỀU về KIẾN THỨC và KỸ NĂNG ngôn ngữ cũng như nhận thức với những vấn đề liên quan, và đạt được độ trôi chảy cần thiết cho giao tiếp trong đời sống thực. Dựa trên cái 4 strands này, tiếp tục xác định mục tiêu của buổi học là để dạy cái gì trong những thứ sau:

– Dạy kỹ năng (4 kỹ năng)

– Dạy ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng)

– Dạy giao tiếp (social English)

– Ôn tập kiến thức cũ

– Chuẩn bị cho việc thi cử

Việc hiểu được vai trò của buổi học sẽ giúp chúng ta xác định được tốc độ hoàn thành một hoạt động trong lớp của người học –>chuẩn bị “đủ” hoạt động đối với thời gian cho sẵn, hiểu được mức độ thành thạo sẽ giúp chọn được tài liệu phù hợp (grading), làm sao để tránh việc “đánh đố” học sinh nếu mới làm quen với phần học đó, hoặc làm mất thời gian của họ khi cho làm một hoạt động quá thấp so với khả năng hiện tại.

Ngoài ra, nó còn giúp chia thời gian phù hợp nhất để mục đích CHÍNH luôn đạt được trước khi chuông reo hết giờ.

2. SẮP XẾP THỨ TỰ HOẠT ĐỘNG

Việc sắp xếp thứ tự hoạt động thực ra có hai hướng chính: hướng dạy PPP truyền thống và hướng dạy học thông qua hoạt động (task-based teaching)

– PPP TRUYỀN THỐNG: một đơn vị học (không phải là cả buổi học) luôn tuân theo PPP như một phương án “an toàn” nhất, trong đó giáo viên dạy (Presentation) – sau đó cho học sinh thực hành với những bài tập hoặc hoạt động bị giới hạn đúng/sai (Practice) – tiếp tục cho học sinh thực hành ở những đề tài mở rộng hơn và gần với đời sống thực hơn, trong đó học sinh có toàn quyền quyết định nội dung nói/viết cũng như ngôn ngữ họ sử dụng (Production).

Điểm quan trọng ở đây là việc phân biệt Practice với Production. Practice là những hoạt động bị giới hạn và sẽ được giáo viên chữa trực tiếp/gián tiếp sau khi hoàn thành. Mục tiêu của nó là để giúp người học NHỚ được MẪU ngôn ngữ/kỹ năng được giáo viên hướng dẫn ở Presentation, và áp dụng chúng vào những trường hợp tương tự như cái đã học. Nói cách khác, nó hướng tới ACCURACY (độ chính xác). Nếu phần này học sinh làm không “đủ”, hậu quả sẽ là học sinh có thể nói/viết nhưng thường xuyên mắc lỗi sai; ngược lại, nếu làm QUÁ NHIỀU, học sinh sẽ cảm thấy chán nản và lâu dần sẽ ảnh hưởng tới độ tự tin khi sử dụng tiếng (vì sợ sai). Thế nên về cơ bản, cần phải cân nhắc rất kỹ lượng bài tập/hoạt động phù hợp cho từng vấn đề ngôn ngữ chúng ta dạy, trong đó những thứ phức tạp có thể dành nhiều thời gian hơn – hoặc dùng spacing (học cách quãng) để xoay vòng kiến thức, làm sao cho vẫn “đủ” mà không “ngợp”.

Production là những hoạt động thiên về project hoặc role-play, nhưng khi thiết kế bài, giáo viên cần cân nhắc rất kỹ sao cho trong tình huống mình giao, học sinh KHÔNG CÒN CÁCH NÀO KHÁC mà BUỘC phải dùng mẫu mình đã dạy. Nếu phần này để “thoải mái” quá, nó sẽ không có tác dụng củng cố cho nội dung kiến thức đã học ở phần trước –> hiệu quả đạt được sẽ không cao.

Games trong phần tài liệu hỗ trợ giáo viên đa phần được thiết kế cho Practice nhưng cũng có một số (tầm 1/3) là dành cho cái Production này. Khi lựa chọn tài liệu bổ trợ, giáo viên phải hết sức tỉnh táo để nhận diện: khi thực hiện “game” này, học sinh sẽ phải LÀM GÌ, từ đó xác định được nó là Practice hay là Production.

– TASK-BASED TEACHING với giáo viên mới vào nghề thường được coi là “đỉnh cao” của kỹ thuật giảng dạy. Bản chất của nó là thông qua hoạt động, người học TỰ nảy sinh nhu cầu về một hoặc một số MẪU ngôn ngữ nhất định –> giáo viên dạy –> học sinh thực hành lại cái vừa được học. Cái khó của cách dạy này là ở chỗ giáo viên phải phân tích CỰC KỲ KỸ về cái task mình giao, làm sao cho tránh được tối đa những tình huống mình không chuẩn bị trước; sau đó phải chuẩn bị sẵn những tài liệu cần thiết để tiến hành PPP cho những vấn đề ngôn ngữ mà họ kỳ vọng học sinh sẽ hỏi đến –> thiết kế tiếp hoạt động để học sinh thực hành đủ cho nội dung vừa học. Nói cách khác, ngôn ngữ trong cách dạy này sẽ không tuân theo bất cứ một nguyên tắc nào về thứ tự sắp xếp, và kinh nghiệm giảng dạy + sự linh hoạt trong kỹ thuật thao giảng sẽ quyết định chất lượng của buổi dạy đó.

Bên cạnh hai hướng chính này, việc cân nhắc thứ tự còn được áp dụng khi lựa chọn tài liệu sử dụng cho mỗi một phần của hoạt động, với nguyên tắc từ dễ đến khó (cái này tham khảo bài về Cummins hồi trước mình viết **). Việc staging này rất quan trọng và cần hết sức kỹ càng, trong đó bất kỳ một cái gap nào trong thứ tự phát triển mà chúng ta không tìm được tài liệu phù hợp –> hoàn toàn có thể tự thiết kế (khó) hoặc adapt (dễ hơn) tài liệu sẵn có theo hướng mình mong muốn.

Trên đây là những bước cơ bản nhất trong quá trình tư duy soạn bài của giáo viên, và người giáo viên đó càng biết thêm nhiều lý thuyết và hướng đi trong giáo học pháp, sẽ càng sử dụng các “công cụ” giảng dạy này hiệu quả, từ đó hỗ trợ việc học tập của học sinh được toàn diện trên tinh thần tôn trọng người học và việc học nhất có thể.

ThS. Nguyễn Thanh Thuý(Khoa Tiếng Anh, Đại học Hà Nội)

NỘI DUNG LIÊN QUAN

Đang tải...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

scroll to top
Loading...